Đây là công nghệ in trực tiếp sử dụng rất quen thuộc trong công nghệ in Kỹ thuật số nói chung không riêng gì cho in Kỹ thuật số khổ lớn trên vải sợi. File sẽ được truyền trực tiếp từ hệ thống máy tính điều khển đến máy in sau khi thông qua phần mềm RIP – vừa làm nhiệm vụ điều khiển máy in và vừa làm nhiệm vụ RIP ảnh trước khi in. Trong in Kỹ thuật số khổ lớn thì định dạng file sử dụng không khác mấy so với các dạng in Kỹ thuật số khác, ngoài định dạng đầu vào là pdf, ps, eps (in Kỹ thuật số các sản phẩm trên giấy của các công nghệ in NIP) thì in Kỹ thuật số khổ lớn hổ trợ sử dụng các định dạng file ảnh như TIFF, JPG, nhưng thông dụng nhất lại là định dạng TIFF. Tùy theo kích thước sản phẩm in mà file sẽ được xuất có độ phân giải khác nhau.
File ảnh sau khi đã xuất xong sẽ được nhập vào phần mềm RIP. Tại đây, phầm mềm sẽ hổ trợ một số chức năng phụ như ghép các hình ảnh in rời rạt trên khổ in lớn, bình các hình in nhỏ trên khổ in lớn, thu phóng, di chuyển,… cho phép người sử dụng sẽ định hướng được hình ảnh sau khi hoàn tất công đoạn in.
Khi nhận được lệnh in, trình điều khiển sẽ tiến hành RIP file và chuyển dữ liệu sang máy in và máy in bắt đầu là việc. Cartridge mực sẽ di chuyển trong phạm vi hai đầu của máy in, chạy dài hết khổ in và theo nguyên tác là phun mực tại những điểm cần phải in dựa trên tín hiệu dữ liệu đầu vào. Vật liệu ở dạng cuộn, được đưa vào máy in và di chuyển theo hướng vuông góc với hướng di chuyển của cartridge mực.
Vật liệu sau khi được in xong sẽ được kéo đi qua một hệ thống sấy, thông thường là sấy bằng nhiệt hoặc hồng ngoại tùy theo trang bị của máy in. Tuy nhiên, cách sấy khô vật liệu sau khi in phải phù hợp với loại mực sử dụng cũng như tính chất vật liệu.
Một vấn đề đặt ra là hình ảnh in có kích thước là một con số ấn định trước thì độ phân giải của định dạng TIFF khi xuất ra là bao nhiêu thì có thể đáp ứng được cho in? Tuy ở Việt Nam hiện nay thì công nghệ in Kỹ thuật số trên vải sợi còn rất hạn chế, chủ yếu là chỉ có in trên vải Silk, hiflex, decal, PP, Backflit, giấy ảnh…. Theo khảo sát của nhóm thì hầu hết các cơ sở in Kỹ thuật số khổ lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 1, 3, 5, 10, 11, 7, Tân Bình, Bình Thạnh) hiện nay đều không có một chuẩn riêng nào cho file TIFF trước khi in. Khách hàng sẽ cung cấp cho các cơ sở in file gốc từ ứng dụng và để cho nhà in tự xuất file, số ít khách hàng ở các tỉnh lân cận có nhu cầu in thì đều xuất file ở dạng JPG, JPEG để file có kích thức nhỏ gọn, tiện cho việc email. Tuy nhiên đây là những địng dạng file nén, không đạt được chất lượng tốt cho sản phẩm.
Một số nhà in khuyến khích là nên thiết kế file với đúng kích thước thật và xuất file TIFF có độ phân giải từ 200 – 300dpi. Tuy nhiên lúc này sẽ gặp một vấn đề khi cần in những sản phẩm có kích thước tối đa. Khổ in tối đa hiện nay ở địa bàn Tp. Hồ Chí Minh là 3.2m, chiều dài in tối đa hiện nay có thể lên đến 6m. Khi đó, nếu ước tính dung lượng file TIFF với độ phân giải 200dpi ở hệ màu CMYK sẽ cho một dung lượng file khổng lồ.
Có thể thấy cách ước chừng này sẽ gây hạn chế rất lớn cho cầu hình máy tính sử dụng để thiết kế, xuất file cũng như máy tính dùng để RIP và điều khiển máy in. Theo FLAAR – Tổ chức chuyên nghiên cứu về in Kỹ thuật số khổ lớn khuyên rằng nên xuất file TIFF trong khoảng từ 200 – 300MB là có thể in được, đối với những nhu cầu in có kích thước lớn như ví dụ nêu trên thì độ phân giải tối thiểu không vượt quá 72dpi và có sử dụng chế độ nén ảnh LZW.